Nuôi vịt khoa học an toàn hiệu quả (phần 4)

chan-nuoi-vit-19

Chương 1: Kỹ thuật chăn nuôi lồng vịt đẻ

Phương thức chăn nuôi truyền thống vịt đẻ tương đối sơ khai, như phương thức nuôi trong khoang chuồng, nuôi phân tán, chăn thả hoặc nửa chăn thả, trình độ thâm canh thấp, hơn nữa còn tồn tại về hạn chế bởi khu vực nuôi, quản lý không tiện lợi và không đáp ứng nhu cầu sản xuất quy mô lớn. Vì thế, để thích ứng với sản xuất thâm canh và quy mô hóa, kỹ thuật nuôi lồng vịt đẻ trứng ngày càng được coi trọng, từ đó đã mở ra một con đường chăn nuôi mới về sản xuất vịt đẻ. Điều đó trong thực tiễn sản xuất có một ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Trại vịt con

I. Ưu điểm về nuôi lồng vịt đẻ

1. Nâng cao hiệu suất sử dụng diện tích đơn vị chuồng vịt và hiệu suất lao động sản xuất

Nuôi lồng không đòi hỏi sân vận động và mặt nước, dùng phương thức nuôi lồng hai hàng, 3-4 tâng, nuôi lồng vịt đẻ chiếm diện tích nhỏ, có thể lợi dụng đầy đủ không gian, lượng chăn nuôi trên diện tích đơn vị chuồng vịt tăng hơn nhiều so với nuôi trên mặt bằng nền chuồng, từ đó nâng cao hiệu suất mất sử dụng chuồng vịt. Do đó có thể đơn giản háo trình tự thao tác quản lý chăn nuôi, giảm được cường độ lao động, hiệu quả lao động sản xuất được nâng cao đáng kể. Số lượng quản lý vịt của mỗi nhân viên nuôi vịt có thể tăng lên gấp đôi.

2. Có lợi cho việc dự phòng và khống chế dịch bệnh

Quá trình sản xuất vịt đẻ nuôi lồng được tiến hành trong chuồng vịt, vịt được cách ly tuyệt đối không trực tiếp tiếp xúc với môi trường bên ngoài. Trong thời gian sản xuất giảm thiểu đáng kể cơ hội lây nhiễm bệnh do tiếp xúc với vi sinh vật gây bệnh từ môi trường bên ngoài, nhất là bệnh dịch truyền nhiễm qua đường lây truyền của một số loài chim hoang dã nào đó (như dịch cúm gia cầm), thứ hai là, vịt nuôi lồng do không gian hoạt động bị hạn chế, nên thời gian cần thiết để phòng dịch ngắn, có thể tránh phát sinh các hiện tượng làm kinh sợ đàn hay lọt lưới tiêm phòng. Tiếp đến vịt đẻ nuôi lồng có thể tránh khỏi hiện tượng các máng ăn, máng uống bị phân làm ô nhiễm, giảm bớt sự phát sinh bệnh truyền nhiễm, cho dù cá biệt con vịt đẻ bị bệnh cũng có thể kịp thời phát hiện và được điều trị hoặc đào thải kịp thời. Có thể giảm đáng kể nguy có lây nhiễm bệnh dịch cho đàn vịt.

chan-nuoi-vit-6

3. Nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi

Vịt đẻ nuôi lồng do không có hiện tượng tranh nhau ăn nên ăn uống đều đặn, làm cho thể trọng đàn vịt đồng đều, bắt đầu đẻ đồng đều, hơn nữa phạm vi hoạt động nhỏ, nên giảm bớt lượng vận động và tiêu hao thể lực, do đó giảm bớt tiêu hao thức ăn. Thú đến là các tín hiệu về trạng thái sức khỏe của các cá thể và tính năng sản xuất của vịt nuôi lồng được phản hồi kịp thời, có lợi cho việc đào thải các cá thể không tốt, làm cho tỷ lệ đẻ trứng của đàn vịt được nâng cao.

4. Có lợi cho việc bảo vệ môi trường và sản xuất sạch

Phương thức nuôi trên mặt bằng truyền thống do thiếu sự quản lý nghiêm ngặt và sự ràng buộc của những hành vi xã hội, cộng thêm khả năng tập trung xử lý những vật phế thải còn yếu, làm tăng thêm sự ô nhiễm cho môi trường. Còn trong quá trình nuôi lồng, do vịt ở trong môi trường tương đối quây kín, nguồn ô nhiễm trong quá trình chăn nuôi chỉ giới hạn ở sân bãi nuôi, những vật bài tiết trong sản xuất dễ thu thập và qua xử lý thích đáng có thể tái xử dụng hoặc đạt chỉ tiêu xả thải, không gây ô nhiễm, hoặc làm nguy hại đến môi trường, có lợi cho việc thực hiện sản xuất sạch, giảm bớt sự ô nhiễm sản phẩm và tỷ lệ phát sinh bệnh truyền nhiễm. Trứng của vịt đẻ nuôi lồng vừa đẻ ra do sự tác động của độ dốc và trọng lực lăn xuống khoang đẻ trứng, do mặt trực tiếp tiếp xúc của đáy lồng với trứng vịt tương đối sạch, nên đã giảm thiểu mức độ ô nhiễm của trứng vịt, bảo toàn tương ứng hoàn chỉnh màng ngoài của vỏ trứng, có lợi cho việc kéo dài thời kì tươi mói và chất lượng của trứng vịt, cải thiện bề ngoài của trứng vịt, giảm bớt công đoạn công nghệ rửa trứng trong quá trình gia công chế biến trứng, tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường về kinh doanh trứng vịt.

II. Biện pháp kỹ thuật chủ yếu của nuôi lồng vịt đẻ

chan-nuoi-vit-9

1. Lựa chọn địa điểm và xây dựng chuồng trại vịt

Chuồng vịt yêu cầu xây ở nơi có điều kiện thông gió và điều kiện lấy ánh sáng tương đối tốt và trang bị đèn điện chiếu sáng bổ trợ, việc xây dựng chuồng vịt đẻ cũng giống như hình thức xây dựng chuồng vịt đẻ cũng giống như hình thức xây dựng chuồng gà đẻ, cần phải có tính năng thông gió, lấy ánh sáng và giữ nhiệt tốt. Thông thường diện tích mỗi chuồng vịt đẻ là từ 150 – 200 m, số lượng nuôi khống chế ở mức khoảng 2.000 con là vừa, để tiện cho phòng dịch và quản lý. Điều chỉnh vị trí bóng điện, cứ 20m lắp một bóng điện 25W.

2. Cấu tạo lồng vịt

Lồng vịt có thể dùng các thanh tre hoặc lưới dây thép để làm thanh gỗ hoặc lồng sắt, dùng thanh gỗ có đường kính trên 4cm để làm giá đỡ, thông thường làm thành lồng vịt 2 tầng chồng lên nhau theo kiểu bậc thang, mỗi chiếc lồng vịt phía trước cao trên 37cm, phía sau cao 32cm, dài 190cm, rộng 35cm. Máng ăn lắp ở phía trước, tấm đáy chuồng thuận hướng kéo dài thêm 20cm làm máng tập trung trứng. Mặt đáy lồng cách mặt nền từ 45 – 50 cm, có độ dốc 4.2, để trứng vịt có thể lăn thuận lợi xuống máng tập trung trứng. Lồng trên, lồng dưới phải chồng so le nhau, không được chồng khít lên nhau, nên cách nhau 20cm. Mỗi lồng nuôi vịt trưởng thành từ 1 – 3 con, bố trí một đầu vú uống nước tự động.

chan-nuoi-vit-13

3. Lựa chọn giống

Vịt đẻ nuôi lồng phải lựa chọn giống vịt có thể hình nhỏ, tình dục thành thục sớm, tiêu hao thức ăn ít, đẻ trứng nhiều, tính thức ứng mạnh. Để nâng cao hiệu quả kinh tế, phải chọn loại vịt thành niên (vịt lớn) cường tráng, không bệnh tật, độ lớn đồng đều. Có như vậy, sau khi cho vịt con vào lồng nuôi, qua thời kỳ thích ứng hơn nửa tháng là có thể tiếp tục đẻ trứng, hàng năm 2 mùa xuân thu là thời kỳ cao sản. Vịt cái trưởng thành nuôi năm đầu có tỷ lệ đẻ trứng cao, nhất, năm thứ 2 đã giảm sút, phải đào thải thay mới 50%, năm thứ 3 thì thay mới hoàn toàn.

4. Kỹ thuật chăn nuôi vịt con

 

Thông thường dùng phương pháp nuôi vịt con trên lưới, nhiệt độ trong phòng nuôi duy trì khoảng 30 độ, độ ẩm 60%, sau 3 ngày thì mỗi ngày giảm 3 độ, giảm cho tới khi đạt 22 – 23 độ. Trong nhà yêu cầu chiếu sáng đầy đủ, thông gió tốt, ban ngày chiếu sáng tự nhiên, ban đêm cứ 30m dùng 2 bóng 15W để chiếu sáng. Vịt con đưa vào phòng nuôi vịt con nghỉ ngơi sau 1 giờ có thể cho ướt mỏ, có thể dùng nước đường gluco 5% hoặc nước đường, sau khi cho ướt mỏ đổi thành nước thông thường, sau từ 1-2 giờ thì có thể thêm thức ăn, đem thức ăn trộn ướt, mỗi ngày đêm cho ăn 5 lần, cả ngày bảo đảm trong máng nước uống có nước.

5. Kỹ thuật chăn nuôi vịt nhỡ

Vịt đẻ nuôi lồng dùng kiểu lồng chồng lên nhau hoặc lồng nhiều tầng, mỗi tầng 4 lồng, mỗi lồng nuôi 4 con vịt đẻ, có thể nuôi khô, cũng có thể nuôi ướt, một ngày cho ăn 4 lần, uống nước 5 lần, lượng thức ăn mỗi ngày tăng lên 2.5g, cho tới khi 60 ngày tuổi, mỗi con vịt 150g. Sau đó duy trì ở mức trên, khi 80 ngày tuổi, tiêm vacxin phòng dịch, khi đạt 120 ngày tuổi tiêm vacxin phòng tả, khi vào thời kỳ đẻ cao điểm tránh tiêm cho vịt đẻ.

Thời kỳ nuôi vịt nhỡ ban ngày vào mùa đông có thể lợi dụng chiếu sáng tự nhiên, khi gặp trời âm u, ánh sáng không đủ, thì dùng đèn điện chiếu sáng bổ trợ thích hợp, ban đêm chiếu sáng bằng đèn ánh sáng yếu, cứ 30m chuồng vịt lắp đặt 1 bóng đèn điện 15W. Nhiệt độ trong chuồng về mùa hạ không được cao tới 30 độ, cứ cách 2 ngày dọn phân 1 lần, nhiệt độ trong chuồng về mùa đông là 20 độ, thấp nhất cũng không dưới 7 độ, mùa đông chú ý thông gió, để không có mùi phân hôi thối kích thích mũi, cứ 3 ngày dọn phân 1 lần.

6. Quản lý chăn nuôi thời kỳ vịt đẻ

  •  Đưa vào chuồng

Vịt khoảng 70 – 80 ngày tuổi thì đưa vào lồng để nuôi. Mỗi lồng nuôi từ 1 – 3 con. Khi đưa vào lồng chọn vào buổi sáng đẹp trời. Biểu hiện của vịt vừa mới đưa vào lồng là không yên tâm, sẽ kinh hãi đàn, lúc này phải duy trì môi trường yên tĩnh, giảm bớt số nhân viên khác ra vào, kịp thời đưa số vịt đã chọn về vị trí.

  •  Huấn luyện ăn và uống

Trước khi để thức ăn vào thì trong máng phải bỏ nước vào, cho chúng uống nước tự do khoảng nửa giờ, thì xả hết nước đi, rồi cho vào thức ăn. Trước hết dùng 25 – 30% nước trộn ướt thức ăn, rồi bỏ đều vào trong máng ăn. Bắt đầu vài ngày đầu mỗi ngày cho số lượng ít nhưng cho ăn nhiều bữa, thời kỳ thích ứng với nuôi lồng cũng phải mất thời gian khoảng 2 tuần, đợi sau khi đã đi vào bình thường thì cố định số lần mỗi ngày cho ăn làm 3 lần là sáng, trưa và tối.

  •  Khống chế thể trọng

Sau khi đưa vào lồng nuôi, căn cứ vào tình hình thể trọng của vịt, đem vịt của toàn đàn đại thể chia tổ, lượng thức ăn cho tổ có thể trọng nhỏ thì gia tăng thêm một chút, như vậy có thể cải thiện độ đồng đều của đàn vịt, làm cho vịt khi bắt đầu đẻ được đồng đều và rút ngắn thời gian đạt tới thời kỳ đẻ cao điểm. Đó là một trong những ưu điểm của nuôi lồng.

chan-nuoi-vit-7

  •  Chiếu sáng

Mới đầu lấy chiếu sáng tự nhiên là chính, ban đêm ở trong chuồng có ánh sáng yếu, để đàn vịt ở trong trạng thái yên tĩnh. Trong thời kì đẻ trứng cũng phải tiến hành bổ sung chiếu sáng nhân tạo. Chiếu sáng theo mức cứ 20m lắp một bóng điện ánh sáng trắng 25W, điều chỉnh độ cao treo bóng đèn, sao cho ánh sáng được tỏa đều trong chuồng. Bổ sung chiếu sáng theo phương thức mỗi tuần gia tăng 15 phút, kéo dài cho đến khi đạt mỗi ngày 15 – 16 giờ thì thôi và cố định lại.

  •  Vệ sinh

Theo yêu cầu trình tự tiêm phòng dịch tiến hành tiêm các loại vacxin. Hàng ngày quan sát tình trạng ăn, uống, đi vệ sinh, và tinh thần ra sao, khi phát hiện tình trạng khác thường phải kịp thời điều trị và cho cách ly. Mỗi tuần tiến hành 1 lần tiêu độc cho môi trường và không khí. Định kỳ bổ sung chất kháng sinh và thuốc tiêu độc vào thức ăn và nước uống, định kỳ dọn phân.

  •  Thông gió thay đổi không khí

Mùa hạ đến, tăng lắp đặt thiết bị thông gió và phun nước để hạ nhiệt độ chuồng vịt. Nhiệt độ tốt nhất của thời kỳ đẻ trứng là 15 – 20 độ. Về mùa đông tránh việc thổi trực tiếp gió lạnh vào, giảm thiểu lượng thay đổi không khí, trên nguyên tắc là không để không khí trong chuồng vịt quá vẩn đục ô nhiễm, việc thay đổi không khí nên chọn thời điểm tiến hành vào buổi trưa.

  •  Thức ăn

Khi nuôi lồng, do mất đi 1 số cơ hội kiếm thức ăn nên phải đặc biệt chú ý đên sự toàn diện và cân bằng dinh dưỡng trong thức ăn, lượng bổ sung nguyên tố vi lượng và vitamin cũng cao hơn từ 20 – 30% so với nuôi quây chuồng. Mỗi tuần cho ăn thêm một lần cát sạn. So với nuôi ở chuồng, về mặt chỉ tiêu năng lượng trong thức ăn, có thể điều chỉnh thấp hơn, tùy theo sự biến đổi của nhiệt độ không khí thì lượng cung cấp thức ăn cũng phải điều chỉnh theo. Về mùa đông thì nhiệt độ không khí cứ hạ thấp hơn 1 độ thì tăng 2g thức ăn. Nguyên liệu làm thức ăn phải bảo đảm tươi mới và vệ sinh, tránh làm mốc nguyên liệu.

Vịt đẻ nuôi lồng có thể sớm đạt tới cao trào đẻ trứng so với vịt đẻ nuôi ở mặt bằng. Trong quá trình chăn nuôi vịt đẻ trong lồng, thường xuất hiện một số lượng nhất định trứng vỏ mềm và trứng vỏ mỏng, nhất là trước khi tiến vào thời kỳ đẻ cao điểm, vì thế trong thời kỳ đẻ cao điểm phải thực hiện bổ sung canxi cho vịt nuôi lồng, thức ăn chứa canxi tốt nhất là bột vỏ trứng, bột trai, sò ốc hến, bột xương. Thời gian bổ sung thức ăn có thể tiến hành vào buổi chiều cho đến khi tắt dền vào ban đêm đều được. Số lượng thức ăn cần bổ sung phải căn cứ vào tỷ lệ trứng vỏ mềm và trứng vỏ mỏng mà quyết định. Thông thường bổ sung cho đến khi hết hiện tượng có vỏ trứng mềm và vỏ mỏng mới thôi. Thông thường cứ 100 con vịt thì mỗi lần bổ sung 0.5 kg là vừa.

chan-nuoi-vit-14

  •  Nhặt trứng

Thời gian vịt đẻ trứng thường diễn ra vào ban đêm, cho nên công tác đầu tiên vào buổi sáng là nhặt trứng. Ban ngày cũng phải định giò thu thập những quả trứng linh tinh lại, giảm thiểu số lượng trứng bị vỡ.

  •  Cho ăn ở thời kì đẻ cao điểm

Trước 3 tuần khi vịt đẻ đạt tời thời kỳ đẻ cao điểm bắt đầu cho ăn tăng cường, thời kỳ trước cho ăn 3 lần nay đổi thành 4 lần, lần cuối cùng tận lượng lùi về sau, số lượng cho ăn cũng tăng lên thích đáng, tốt nhất là sau 8 giờ tối, như vậy có lợi cho việc nâng cao tỷ lệ đẻ trứng và trọng lượng của trứng.

  •  Đề phòng bệnh tật cho vịt đẻ nuôi chuồng
  •  Tẩy giun

Khi cho vịt đẻ vào lồng khoảng 20 ngày thì cho tẩy giun đũa, nếu lợi dụng đẻ trứng cao điểm năm thứ 2, thì trong thời gian nghỉ đẻ thay lông tiến hành tẩy giun đũa và trĩ rận trên vịt.

  •  Phòng dịch bệnh

Khi lựa chọn các loại vacxin thì phải căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương, của trại mình mà quyết định, vào thời kỳ đẻ cao điểm cần tránh tiêm cho vịt.

  •  Phòng chữa bệnh cho vịt

Ở cửa vào trại chăn nuôi phải xây thiết chế tiêu độc, chỗ cửa vào mỗi dãy chuồng chăn nuôi phải xây bể tiêu độc. Về mùa xuân, hạ, thu cứ 2 ngày dọn phân 1 lần, về mùa đông thì chú ý thông gió, cứ cách 3 ngày dọn phân 1 lần. Mỗi tuần dùng thuốc khử trùng tiêu độc trong và ngoài chuồng một lần. Vịt đẻ nuôi lồng ít tiếp xúc với bên ngoài, vì vậy giảm bớt được nguy cơ lây nhiễm bệnh, đồng thời cũng có thể tránh được việc các máng thức ăn, máng uống bị phân làm bẩn, nên ít phát bệnh truyền nhiễm hơn. Nhưng phải chú ý phòng chống bệnh lòi dom và bệnh chân mềm cho vịt đẻ. Trước khi vào thời kỳ đẻ cao điểm, cho vịt đẻ uống thuốc đông y. Trong thời kỳ đẻ trứng phải đuổi cho vịt đẻ đi lại vận động trong lồng đẻ để phòng bệnh mềm chân ở vịt.

III. Một số vấn đề tồn tại và cần chú ý đối với phương thức nuôi lồng

chan-nuoi-vit-4

1. Những vấn đề tồn tại về phương thức nuôi lồng

1.1. Hiện tượng phản ứng do bị kích động

Nuôi lồng do hạn chế sự vận động của vịt, khiến vịt thường xuyên trong trạng thái bị kích động. Về mùa hạ nhiệt độ cao, nếu không có thiết bị hạ nhiệt, thì phản ứng bị kích động do nóng càng nghiêm trọng, thường phát sinh bị say nắng. Ngoài ra, thao tác quản lý chăn nuôi vịt đẻ trong lồng đều diễn ra trong trường hợp ở gần vịt, khó tránh khảo làm ảnh hưởng không tốt đến vịt.

1.2. Dễ dẫn đến bệnh chân mềm

Do chăn nuôi trong lồng trong thời gian dài, không gian hoạt động bị hạn chế, nên phần lớn thời gian hoạt động của vịt là nghỉ ngơi, hoạt động ít, dễ dẫn đến những vấn đề về chân như bệnh chân mềm.

1.3. Lông vịt mọc rối loạn, mã ngoài kém

Sau khi nhốt vịt vào trong lồng, do không được tiếp xúc trực tiếp với nước, lại bị hạn chế bởi không gian hoạt động, hành vi rỉa sửa lông vũ giảm đi đáng kể, cộng với cơ hội ma sát trực tiếp giữa vịt với thành lồng và giữa vịt với vịt tăng lên, làm ảnh hưởng đến độ bóng mượt của lông và bề ngoài của vịt.

1.4. Phát sinh hiện tượng kẹp đầu, kẹp cổ, kẹp cánh

Do thao tác của người chăn nuôi trong công tác quản lý chăn nuôi như cho ăn, nhặt trứng…, người chăn nuôi khi thao tác lại thường tiếp xúc trực tiếp ở cự ly gần với vịt sẽ khiến vịt có phản ứng tránh né, hơn nữa nếu lồng thiết kế không tốt, thường dẫn đến hiện tượng vịt bị kép đầu, kẹp cổ, kẹp cánh, làm thương tổn trực tiếp tới vịt và tăng thêm số lượng vịt bị đào thải.

1.5. Tăn giá thành chăn nuôi

Khi nuôi lồng đòi hỏi phải đặc chế các thiết bị chăn nuôi như lồng vịt, làm cho giá thành vịt nuôi (lồng, máng ăn và máng uống) sử dụng một lần tăng lên, nên chỉ chăn nuôi 1 năm thì lợi ích kinh tế không bằng chăn nuôi trên mặt bằng chuồng, nhưng nếu sử dụng trong nhiều năm, thì giá thành có thể giảm bớt đáng kể.

2. Những điều chú ý khi nuôi lồng vịt đẻ

Hiện nay kỹ thuật nuôi lồng đã tương đối thành thạo, nhưng do còn hạn chế bởi trang thiết bị đầu tư vào tương đối lớn, nên ứng dụng vào trong sản xuất còn chưa phổ cập, nếu những người chưa chăn nuôi vịt đẻ hay chưa có kinh nghiệm nuôi vịt đẻ, thì tốt nhất nên bắt đầu nuôi thử số lượng nhỏ và cần được sự hướng dẫn của người có kinh nghiệm.

Việc cải tạo lồng vịt tốt hay xấu có ảnh hưởng trực tiếp đến tính năng sản xuất. Máng ăn tốt hay xấu có quan hệ trực tiếp tới việc thức ăn có bị lãng phí hay không. Gia tập trung trứng có quan hệ đến tỷ lệ vỡ trứng cao hay thấp, những vấn đề đó đều phải cải thiện thích hợp.

Việc pha chế thức ăn đòi hỏi dinh dưỡng phải đầy đủ và toàn diện và tùy theo sự biến động của lượng trứng đẻ và nhiệt độ không khí mà kịp thời điều chỉnh, nên tăng cường bổ sung chất tổng hợp đa sinh tố.

Về mặt quản lý chăn nuôi phải đặc biệt tỷ mỷ, cẩn trọng, nhất là giai đoạn huấn luyện vịt khi mới đưa vào lồng.

chan-nuoi-vit-12

Chương 2: Kỹ thuật canh tác vịt lúa cộng sinh

I. Ưu điểm của việc canh tác lứa vịt cộng sinh

1. Làm cỏ

Căn cứ vào đặc tính của vịt, thích ăn những cây ngoài họ lúa và những cỏ tạp nổi trên mặt nước, nhưng có lúc cũng ăn những cây họ lúa non. Đồng thời trong quá trình hoạt động của vịt trong ruộng lúa, mỏ và chân của nó có tác dụng làm cỏ. Vịt có thể trừ rất sạch các cỏ tạp trong ruộng lúa, là tay trợ thủ đắc lực của người nông dân.

2. Trừ sâu

Vịt rất thích ăn các loại cô trùng và động vật nhỏ thủy sinh. Về cơ bản có thể tiêu diệt các sau hại trong ruộng lúa nước như rầy nâu, sâu đục thân, sâu cuốn lá… Hiệu quả trừ sau này tương đương với việc sử dụng thuốc trừ sâu.

3. Bón phân

Trong thời kỳ lúa vịt cộng sinh, một con vịt có thể bài tiết ra một lượng phân ở trong ruộng lúa nước khoảng 10kg, tương đương với 47g đạm, 70g lân, 31g Kali. Cứ 50m ruộng lúa thả 1 con vịt thì số phân bài tiết ra đủ để bón ruộng lúa nước.

4. Làm cỏ, sục bùn, khuấy nước

Vịt không ngừng hoạt động và bơi lội trong ruộng lúa nước, tạo ra hiệu quả làm cỏ sục bùn. Việc khuấy nước làm cho oxy trong không khí càng dễ hòa tan trong nước, thúc đẩy lúa sinh trưởng. Việc khuấy sục bùn tạo ra hiệu quả làm đục nước, sẽ ức chế sự nảy mầm cỏ tạp.

5. Thúc đẩy lúa non phát triển

Vịt không ngừng hoạt động trong ruộng lúa non, mỏ vịt không ngừng tìm kiếm thức ăn trong các khóm lúa, điều đó kích thích cây lúa đam chồi nở nhanh, thúc đẩy cây lúa nước phát triển từ thấp đến cao, từ yếu đến khỏe trở thành cây lúa khỏe mạnh, tăng cường khả năng chống lại gió mạnh.

chan-nuoi-vit-18

II. Biện pháp kỹ thuật chủ yếu canh tác lúa vịt cộng sinh

1. Chọn giống

Lúa vịt cộng sinh không trừ cỏ bằng thuốc hóa học, không sử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu, là một phương thức trồng lúa hữu cơ. Yêu cầu đối với giống lúa nước khác hoàn toàn với việc chăm sóc lúa cao sản, phải căn cứ vào môi trường sinh thái địa phương và điều kiện môi trường địa lí chọn loại giống lua nước cao sản chịu đất bạc màu, chất lượng tốt, thích ứng sinh thái tốt, tình trạng tổng hợp tốt, nhu cầu thị trường cao, đặc biệt là phải trọn loại giống gốc vừa phải, sức đẻ nhanh tốt, có tỷ lệ thành bông lúa cao, chất lượng tốt, tránh sau keo hại mùa màng.

Vịt trong canh tác lúa vịt cộng sinh thì được chăn thả trong ruộng lúa, hoạt động giữ các khóm lúa, có tác dụng làm cỏ trừ sâu, sục bùn, mà số lần cho ăn lại ít đi, khác với nuôi ở chuồng và nuôi trong nhà máy. Như vậy phải chọn loại giống vịt lai tạo có thể ở cơ nhỏ, vừa, tính thích ứng cao, sức hoạt động mạnh, thời gian hoạt động dài, lượng hoạt động lớn, thích ăn những cây cỏ dại, có chất lượng thịt tốt là loại kiêm cả lấy thịt và lấy trứng hay vịt nuôi lấy trứng.

2. Chăn bón lúa nước

Mạ dùng trong canh tác lúa vịt cộng sinh nên dùng mạ tuổi cao, tuổi mạ thích hợp khoảng 30 ngày, là tuổi từ 6-7 lá, gốc đơn kèm theo khoảng 3 nhánh. Mật độ cấy lúa nước trong canh tác lúa vịt cộng sinh vừa phải xét tới việc có lợi cho vịt hoạt động, đan xem xuyên qua giữa các hàng lúa, lại vừa phải chú ý tới chọn loại giống lúa cao sản hiệu quả. Vì thế, mật độ chăm bón lúa nước trong canh tác lúa vịt cộng sinh khác với phương thức trồng lúa thông thường, không những giãn cách giữa các hàng lúa phải mở rộng thêm, mà giãn cách giữa các khóm lúa cũng phải cũng phải mở rộng thích đáng, giãn cách giữa các hàng thích hợp là từ 25-30cm, giãn cách giữ các khóm lúa khoảng 20 cm. Mật độ giãn cách như vậy, không chỉ có lợi cho lúa đạt năng suất cao, mà còn có lợi cho vịt hoạt động qua lại dễ dàng giữa các khóm lúa. Như vậy, ưu điểm cạnh tranh lúa vịt cộng sinh càng được phát huy.

chan-nuoi-vit-3

3. Quản lý thả vịt trong ruộng lúa nước

3.1. Ấp và nuôi thả vịt con

Căn cứ vào thời kì gieo m ạ, thời kỳ cấp lúa và thời kỳ chăn thả vịt con mà xác định thời kỳ ấp nở vịt con. Thời kỳ ấp nở vịt con là khoảng 28 ngày. Trước khi xuống đồng, thời kỳ nuôi vịt con là từ 7-10 ngày, cũng tức là thời gian từ khi ấp đến khi thả vào ruộng lúa là từi 35-38 ngày, vịt con sau khi nở ra đợi khô lông, tập trung ở trại nuôi vịt con tiến hành úm vịt con ở nhiệt độ thích hợp, nhiệt độ trong phòng nuôi vịt con 1 ngày tuổi là 28-26 độ, từ 2-7 ngày là 26-24 độ, từ 8-10 ngày là 24-22 độ. Độ ẩm trong phòng là từ 65-70%, cần sớm cho uống, cho ăn, dùng thức ăn toàn phần cho thêm một ít hạt gạo để nuôi, đồng thời làm tốt công tác tiêu độc cho sân trại và dụng cụ nuôi vịt côn. Khi 3 ngày tuổi, tiêm phòng bệnh viêm gan siêu vi trùng và bệnh dịch ở vịt. Khi đẹp trời, sau 3 ngày là có thể thả vịt ra ngoài hoạt động.

3.2. Huấn luyện vịt con xuống nước

Chọn ngày đẹp trời có nhiệt độ không khí từ 15 độ trở lên, vào buổi sáng từ 9-11 giờ, cho vịt con từ 3 ngày tuổi trở lên vào bể nước có độ sâu từ 15-20cm để huấn luyện vịt con xuống nước. Thời gian luyện tập lần đầu khoảng 30 phút và để vịt con dưới ánh mặt trời tự rỉa chải lông. Sau đó tùy theo số ngày tuổi tăng lên mà kéo dài thời gian hoạt động dưới nước, cho đến khi vịt con có thể hoạt động như ý ở trong nước, đạt tới khi ra khỏi nước lông vẫn khô, từ 3-5 ngày đã có thể hoàn thành công tác huấn luyện xuống nước.

3.3. Thời gian và số lượng vịt thả

Sau khi cấy từ 7-10 ngày khi thả vịt, nếu dùng máy cấy thì sau 15-18 ngày có thể thả vịt, nếu dùng máy gieo thẳng hạt thì sau khi gieo từ 20 – 22 ngày hoặc sau khi mạ được 3 lá thì có thể thả vịt. Mật độ chăn nuôi vịt trong ruộng lúa, thì vừa phải xem xét khả năng thức ăn thiên nhiên trong ruộng lúa có thể bảo đảm nhu cầu phát triển của vịt, lại vừa phải xem xét tính hiệu quả kinh tế. Khi mật độ chăn thả quá thấp, nguồn tài nguyên của lúa chưa thể tận dụng hết, hiệu quả trừ cỏ diệt sâu không đáng kể, còn nếu mật độ chăn nuôi quá cao, thì việc sinh trưởng của lúa bị ảnh hưởng. Thông thường mỗi ruộng thả từ 15-20 con vịt, mật độ chăn thả này vừa có lợi cho việc tránh được đàn vịt quần tụ quá đông dẫm hỏng lúa kỳ trước, lại vừa có lợi cho việc vịt con phân bổ ở các phạm vi ngác ngách giữa các khóm lúa cố định kiếm ăn, đạt được mục đích khống chế tương đối đến việc trừ có tạp và sâu hại ở ruộng. Trước khi thả cần tiêm phòng vacxin phòng bệnh, phòng cúm gia cầm cho vịt. Sau khi thả để đáp ứng nhu cầu kiếm ăn của vịt thì mỗi mấu thả 100 – 200 kg bèo, sau khi thả bèo cứ cách 15 ngày bón phân gia súc từ 300-500 kg/mẫu để đảm bảo chất lượng sinh trưởng của bèo lớn hơn độ tiêu hao của vịt con.

chan-nuoi-vit-2

3.4. Quản lý vịt con

Để đề phòng kẻ thù tự nhiên tập kích và vịt con chạy trốn, trước khi thả vịt thì 4 xung quanh ruộng dùng lưới nilong có mắt lưới là 2cm x 2cm quây lại cho kỹ, chiều cao lưới từ 70 – 80cm, cứ cách 2-3m lại dùng cọc tre đóng xuống làm cột để cố định lưới. Mép trên và dưới nilong dùng dây nilong luồn vào làm căng lưới. Để vịt con có chỗ nghỉ ngơi tránh mưa nắng, thì ở mép ruộng dùng tấm hypoximang và cọc tre dựng lên túp lều vịt đơn giản từ 3-4m, ở góc ruộng dựng lều vịt đó làm khu trại thả tạm vịt con có diện tích từ 10-20m cứ cách 3m đóng một cọc tre, rồi quây lưới cố định bằng cọc tre đó, lưới cao từ 70-80cm.

Trước khi thả vịt, trên mặt nền lán vịt trải 1 số rơn rạ hay trấu khô. Khi chăn thả vịt con ở gần lán vịt phủ lên một số bao tải khoảng 1m bên trên để thức ăn cho vịt con. Trước hết thả vịt con vào khu thả tạm để chúng hoạt động từ 2-3 ngày và chúng sớm thích ứng với môi trướng mới tự động ăn và xuống nước bơi lội. Sau đó mới thả vịt con vào ruộng lớn, nhưng xung quanh khu thả tạp đó không nên tháo đi, để khi thu hồi vịt còn sử dụng.

Trong vòng 2 tuần trước khi thả vịt con vào ruộng lúa, cần cho vịt ăn một số lượng thích hợp thức ăn pha chế, sau 2 tuần thì cho ăn tiểu mạch, ngô, thóc là chính, cùng với việc vịt tự kiếm ăn, số lần cho ăn mới đầu là 3 lần/ngày giảm dần xuống 2 lần/ngày rồi 1 lần/ngày. Số lượng thức ăn cho mỗi con vịt cũng giảm dần. Hai tuần trước khi lúa trổ bông, gia tăng thích đáng số lượng thức ăn để vỗ béo vịt con, số lần và số lượng cụ thể có thể căn cứ vào độ lớn của vịt, lượng có tạp trong ruộng và số lượng sinh vật có thể ăn được ở trong ruộng mà quyết định. Để huấn luyện vịt con có thói quen nghe gọi là đến, khi mỗi lần cho vịt ăn, có thể dùng loa để gọi vịt con, xây dựng cho chúng phản xạ có điều kiện huấn luyện vịt con tập trung lại để ăn, tiện cho việc quan sát và xử lý đàn vịt.

Việc phòng chữa bệnh cho vịt và xử dụng hợp lý thức ăn cần tiến hành dưới sự chỉ đạo của cơ quan thú y.

4. Quản lý phân nước

4.1. Bón phân hợp lý

Tăng cường sử dụng lượng phân sinh vật hữu cơ, nếu chỉ dựa vào rơm khô mục tại ruộng và khô phân để bón thì không thể đáp ứng nhu cầu sinh trưởng của cây lúa. Nên dùng phương pháp bón phân lót loại dùng 1 lần. Còn phân lót chọn dùng loại phân hữu cơ, phân gia súc, trước khi cấy thì bừa cào bằng ruộng lúa. Sau khi bón đủ phân lót không cần phải bón thêm bất cứ loại phân hóa học nào, mà là dùng chất bài tiết của vịt làm phân bón. Trong phân vịt có chứa đủ các thành phần đạm, lân, kali, là một loại phân hữu cơ có hiệu quả cao, kịp thời phân giải vào trong ruộng lúa, được cây lúa hấp thụ sử dụng, vừa tránh được ô nhiễm do phân của chúng, lại vừa tiết kiệm được giá thành, bảo vệ được môi trường sinh thái.

4.2. Dùng nước một cách khoa học

Vịt thuộc loại thủy cầm, thời gian hoạt động kiếm ăn ở ngoài ruộng lúa, vì vậy, mặt ruộng nhất định phải có một lớp nước. Sau khi cấy cần đảm bảo không để khô. Độ sâu lớp nước để canh tác lúa vịt cộng sinh là để chân vịt vừa hay chạm bùn là được, rồi tùy theo vịt ngày một lớn lên độ sâu của nước cũng dần dần tăng lên.

chan-nuoi-vit-11

5. Phòng chữa bệnh sâu có hại

5.1. Cỏ tạp

Dùng máy gieo thẳng do thời gian gieo hạt cách tương đối xa với thời gian thả vịt, nên lượng cỏ tạp mọc lớn. Sau khi gieo hạt cần tiến hành một đợt trừ cỏ.

5.2 Bệnh sâu hại

Phòng bệnh sâu hại ở ruộng lúa trong thời kỳ canh tác lúa vịt cộng sinh thì lấy việc cho vịt con hoạt động và bắt bắt sâu là chính, thông thường thuốc hóa chất để phòng chống, khi phát sinh một số ít thì kiên trì phòng bằng sinh vật và sử dụng thuốc trừ sâu sinh học như matrine… là chính, hoặc trong phạm vi 2-3ha đặt một đén bắt sâu (bướm) để dụ sâu đến và diệt nó.

Trong thời ký canh tác lúa vịt cộng sinh và sau khi lúa trổ bông nếu ruộng lúa bị sâu bệnh nặng như bệnh sâu keo cuốn lá, sâu keo, bướm cắn lúa và các bệnh nư bện đạo ôn, bệnh đạo khúc, bệnh khô vằn… vượt quá tiêu chuẩn khống chế, thì có thể chọn loại thuốc trừ sâu có độc tố thấp, hiệu quả cao, tàn dư ít, không có hại cho môi sinh để tiến hành phòng chống. Trong thời gian phun thuốc trừ sâu đó, cần phải dồn vịt con vào khu mương máng gần đó để nuôi tạm thời, sau 3 – 4 ngày mới cho vịt trở về ruộng.

6. Bắt vịt con và thu hoạch lúa nước

Khi lúa nước trổ bông, thì phải bắt vịt con ở ngoài ruộng về, sau khi lúa chín thì kịp thời thu hoạch rồi phơi khô, quạt sạch cho vào bảo quản

Chương 3 : Kỹ thuật chăn nuôi vịt đẻ trên đất khô kết hợp gián đoạn phun nước

I. Giới thiệu sơ lược về kỹ thuật nuôi vịt đẻ trên đất khô kết hợp phun nước gián đoạn

Phun nước là 1 loại kỹ thuật chăn nuôi phát triển trong mấy năm gần đây, chia làm 2 loại là phun nước từ trên xuống và phun nước từ dưới lên trên. Kiểu phun nước từ trên xuống dưới thì làm cho lông phần lưng của vịt được sạch sẽ nhưng phần lông bụng thì dễ bị vón cục, ảnh hưởng đến bề ngoài của vịt. Còn kiểu phun nước từ dưới lên trên làm cho lông phần bụng và phần lưng đều sạch sẽ, tính năng sản xuất thể hiện rõ ràng. Nhóm được phun nước so với nhóm không phun nước, thì tỷ lệ chết và thảo đài của vịt mẹ và tỷ lệ tiêu hao thức ăn của mỗi con vịt mẹ đều giảm đi rõ rệt, còn số lượng trứng đẻ, tổng lượng trứng đẻ, tỷ lệ đẻ trứng bình quân, trọng lượng trứng bình quân cũng như tỷ lệ tiêu hao thức ăn và đẻ trứng đều được nâng cao rõ rệt. Trước mắt kỹ thuật này vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm, nhưng từ kết quả thí nghiệm cho thấy, chúng có tiềm năng, phát triển rất lớn

II. Biện pháp kỹ thuật chủ yếu trong kỹ thuật nuôi vịt đẻ ở trên đất khô kết hợp phun nước gián đoạn

1 Bố trí cơ sở nhà cửa trang trại thiết bị

  •  Sân vận động đất khô và thời gian đẻ trứng
  •  Ô kẻ
  •  Thiết bị uống nước
  •  Thùng thức ăn
  •  Thiết bị phun nước gián đoạn
  •  Thiết chế xử lý vô hại đến môi sinh

2 Trọng điểm quản lý chăn nuôi

  • Mật độ chăn nuôi trong gian đẻ trứng
  • Trình tự phun nước
  • Thu nhập trứng vịt

chan-nuoi-vit-10

Chương 4 : Kỹ thuật nuôi vịt đẻ trứng trong khoang sinh học

I. Kỹ thuật chế tác khoang sinh học nuôi vịt đẻ

1 Những bước chế tác khoang sinh học

  •  Chuẩn bị chất độn chuồng cho khoang sinh học

Thành phần chất độn chuồng của khoang sinh học thường có tỷ lệ là : Trấu là 60-70%, mùn cưa là 30-40%, cám gạo 10%

  •  Làm khoang sinh học

Bổ sung chất độn chuồng theo liều lượng cứ mỗi giờ 1m2 cho vào o,1-0,2 kg chất rắn lên men sinh học. Trước hết dùng 6 kg nước pha loãng với chất nấm rồi trộn đều, rồi trộn với cám gạo, điều tiết nước trong vật liệu khoảng từ 35%-40%. Rồi đem loại vật liệu này đắp đống, dùng vải hoặc bao tải chặn lên. Sau đó 2-3 ngày, vật liệu này nhanh chóng tăng nhiệt độ đến 60-70 độ thì dỡ ra, để vật liệu lên men hoàn toàn. Sau 4-5 ngày, là có thể trải vật liệu này ra khi nhiệt độ đạt 50 độ thì sử dụng.

  •  Chiều dày của khoang sinh học

Chất dày thích hợp của chất độn khoang sinh học nuôi vịt đẻ là từ 30-40cm, nếu quá mỏng không có lợi cho việc lên men, nếu quá dầy sẽ gây nên lãng phí chất độn lót

2 Những điều cần chú ý khi chế tác khoang sinh học nuôi vịt đẻ

Khi chế tác chất độn khoang sinh học cho vịt đẻ không được lẫn đất, thì hiệu quả càng tốt. Do vịt có thói quen ưa nước, thường làm cho những chỗ gần điểm uống nước bị ướt át. Nên nếu trong chất độn khoang có lẫn đất, thì trên mình vịt sẽ dính đầy bùn đất, đó là kết quả sai lầm không đáng có về mặt quản lý và kỹ thuật. Một mặt vì để hạ giá thành khoang sinh học, nên trên mặt khoang sinh vật cho lẫn nhiều đất vàng hoặc đất đỏ. Mặt khác, các hộ nuôi vịt do quản lý không tốt, không kịp thời lật đảo chất độn, nên chất độn ở gần thời điểm nước uống bị tích nước gây mục nát biến chất, vịt lại thích đùa nghịch ở chỗ nước bẩn, dẫn đến lông vịt , nhất là lông và da ở dưới bụng ô nhiễm, thậm chí da còn có những nốt mẩn đỏ. Qua điều tra của những chuyên gia hữu quan, thì việc không cho lẫn đất vào chất độn khoang có hiệu quả tốt hơn

chan-nuoi-vit-8

II. Kỹ thuật quản lý chăn nuôi khoang sinh học nuôi vịt đẻ

1 Quản lý chăn nuôi vịt đẻ

Phương pháp nuôi vịt con từ 0-7 ngày tuổi giống với chăn nuôi vịt thông thường. Tiêm vacxin viêm gan cho vịt, dùng chất kháng sinh để tiêu viêm, làm sạch ruột

Chăn nuôi vịt lấy trứng từ 8-42 ngày tuổi trên khoang sinh học, cũng giống như nuôi ở mô hình khác

Để phòng bị kích động do nóng. Mật độ chăn nuôi vịt lấy trứng: về mùa hạ và mùa thu thì nuôi 4 con/m2 là vừa, về mùa xuân và hoạt đông nuôi 6-7 con/m2 là vừa. Nếu về mùa hạ có nhiệt độ cao, độ ẩm cao, thì mật độ nuôi có thể giảm đi thích đáng, đồng thời phải phân bố chuồng vịt, tạo khí hậu môi trường nhỏ thích hợp cho vịt, tức là giảm chiều dày lớp độn khoang xuống còn khoảng 30cm, sử dụng biện pháp giảm nhiệt bằng thông gió, máng nước hoặc máy quạt gió lạnh

2 Phòng và chống chế bệnh dịch

Khi phát hiện tình hình có vịt lấy bệnh, vịt yếu, phải kịp thời cách ly, đề phòng nguồn bệnh lây lan

Tiến hành tiêm vacxin phòng dịch theo trình tự thông thường

Chất độn lót khoang sinh học không được tiêu độc, nhưng ngoài khoang lên men sinh học ra thì còn lại như xung quanh chuồng vịt và đường đi… phải tiêu độc theo trình tự quy định

Chăn nuôi vịt trên khoang sinh học là một loại kỹ thuật mới, thường sẽ có rất nhiều người đến tham quan. Do khoang sinh học không thể tiêu độc vì thế phải kiên trì trình tự dự phòng như cọ rửa, thay quần áo, giày dép và tiêu độc đối với các nhân viên và nguồn ra vào

chan-nuoi-vit-1

3 Duy trì khoang sinh học

Trong quá trình chăn nuôi, để thúc đẩy vịt sinh trưởng và đề phòng phát sinh bệnh tật, dưới sự chỉ đạo của nhân viên chuyên môn kỹ thuật, cho thêm 1 lượng vi khuẩn có ích thích đáng vào trong thức ăn. Nhưng nghiêm cấm dùng chất độn khoang sinh học hoặc dùng khuẩn lên men trực tiếp cho vịt ăn, cần phải dùng chất men sinh học dùng riêng cho thức ăn để bổ sung vào thức ăn hoặc uống nước theo yêu cầu

Khoang sinh học giữa 2 đợt nuôi vịt phải cho lên men lại. Mỗi đợt vịt sau khi xuất chuồng, phải trộn thêm vào 1 lượng thích đáng mùn cưa, cám gạo vào trong chất độn và giống men chuyên dùng cho khoang sinh học rồi sau khi đắp đống cho lên men lại, mới tiến hành chăn nuôi cho đợt vịt sau

Nếu khoang sinh học bị mốc đen, hoặc bị ngâm nước trong thời gian dài thì hoạt tính của giống men trong khoang sinh học đó bị giảm. Thậm chí mất hiệu lực, không thể phát huy chức năng phân giải và chuyển hóa phân vịt, phải dọn bỏ triệt để, cho đắp đống lên men dùng làm phân bón, rồi theo phương pháp nói trên làm lại chất độn khoang sinh học

 

 

Gọi ngay